Địa chỉ: 463 Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Hà Nội.          Điện thoại: 04 8326249          Fax: 04 8325865          email: vienlao@bvlaobp.org          Website : http://www.bvptw.org          
 
 
TÌM KIẾM :    
TRANG CHỦ
GIỚI THIỆU
LIÊN HỆ
ENGLISH
THÔNG TIN Y DƯỢC HỌC
Ấu trùng sán chó gây bệnh kén nước ở phổi – Lần đầu tiên được phát hiện ở Việt Nam (11/2/2007)
 

Chúng tôi thông báo một trường hợp nhiễm ấu trùng sán chó (loài echinoccocus granulosus) tạo kén nước ở phổi. Bệnh nhân nam 52 tuổi, được phẫu thuật tại BV Lao và Bệnh phổi T.Ư tháng 8/2007. Chẩn đoán trước phẫu thuật: theo dõi ung thư phế quản. Chẩn đoán sau phẫu thuật: kén nước chưa rõ nguyên nhân. Chẩn đoán mô bệnh học: nhiễm ấu trùng sán chó ở phổi  tạo kén nước, ELISA với ấu trùng sán dây chó (+) 1,48 (Ghi chú: chỉ số bình thường 1,1).

Từ khoá: Bệnh phổi, sán chó, bệnh kén nước.

 

The first of case hydatid cyst disease in lung by Echinococcus granulosus, in Viet Nam

NGO THE QUAN, M.D; TA CHI PHUONG, MD; NGUYEN CHI LANG, PhD;  NGUYEN VAN HUNG, Ph.D;                                  PHAM THI THAI HA, MA;  PHAM THI THU HUYEN, BA; NGUYEN CONG DINH, BA - NHTRD

 

A case of hydatid cyst disease in lung by Echinococcus granulosus was found in Viet Nam. Male patient 52 years old and surgically treated at National hospital of Tuberculosis and Respiratory disease, during 8/2007 years.

Presurgical diagnosis: bronchial cancer. Postsurgical diagnosis: hydatid cyst disease.

Histology: Echinococcus granulosus in lung. Lab: ELISA (+) with Echinococcus granulosus = 1,48 (Ex nomally 1,1).

            Key word: Lung disease, echinococcus granulosus, hydatid cyst disease.

 

1. Đặt vấn đề

Nhiễm sán hoặc ấu trùng sán ở người đã có nhiều đề tài nghiên cứu ở trong và ngoài nước như: bệnh sán lá gan (lớn, nhỏ), sán phổi, sán lợn, sán bò, sán máng...Theo số liệu thống kê ở Việt Nam (10/2007): 24 tỉnh có sán lá gan nhỏ, 47 tỉnh có sán lá gan lớn, 16 tỉnh lưu hành sán lá ruột lớn, 15 tỉnh sán lá ruột nhỏ, sán dây/ấu trùng sán lợn có ở ít nhất 50 tỉnh, 10 tỉnh có sán lá phổi. Tuy nhiên chưa có thông báo nào tại thời điểm này về nhiễm ấu trùng sán chó loài Echinococcus granulosus ở người. Đây là trường hợp đầu tiên tương đối đặc biệt về chẩn đoán lâm sàng, xét nghiệm về sinh học phân tử và liệu pháp điều trị. Chính vì vậy chúng tôi xin thông báo trường hợp đặc biệt duy nhất này đến Quý bạn đồng nghiệp để tìm hiểu và rút kinh nghiệm về loại tổn thương rất hiếm gặp.

 

2. Giới thiệu bệnh án (BA 6322)

Bn Trần Trung N 52 tuổi, nam giới, dân tộc Kinh, Gia viễn-Ninh Bình. Vào viện 6/8/2007. Chẩn đoán khi vào viện: u phổi phải. Bệnh sử: một tháng nay bệnh nhân thấy ho, khạc đờm trắng, không sốt, đau ngực phải, mệt mỏi, ăn ngủ kém, gầy sút cân. Tiền sử: ho từng đợt có đờm trắng 10 năm nay, điều trị tiêm kháng sinh thấy đỡ, trung bình hàng năm tiêm từ 5 đến 7 đợt kháng sinh (không rõ chủng loại) mỗi đợt 7 ngày. Gia đình không ai mắc bệnh tương tự.

  

Khám lâm sàng: thể trạng bình thường, không phù, không xuất huyết, không khó thở, hạch ngoại biên không sờ thấy, vùng cơ bắp 2 cánh tay và huyệt phế du + các điểm cạnh cột sống có nhiều vết sẹo tiêm có dấu hiệu xơ hoá chắc. Mạch 80 lần/ phút, nhiệt độ 37oC, HA 110/70 mmHg, nhịp thở 24 lần/ phút, nặng 61 kg.
 

Phụ lục 1 Bn nam , 52 tuổi,  XQ kén nước đáy phổi phải 3x3.5cm.

Khám cận lâm sàng: Công thức máu: HC 5.35 [106l], BC 6.4 [g/de], TT 0.38 [103/ àl], Eosin 0.38 [103/ àl], và các đợt thử khác cho kết quả Eosin trong khoảng: 0.42/0.43/0.52 [103/ àl]. Sinh hoá: GOT 27, GPT 32. Siêu âm: gan, lách, thận bình thường. Chụp CTscanner não không thấy tổn thương. XQ phim Standart (Phụ lục1): đám mờ đáy phổi phải, ranh giới rõ. Chụp CTscanner phổi: kết luận theo dõi u phổi phải.

 Phẫu thuật: Chẩn đoán trước mổ: ung thư phế quản thuỳ dưới phổi phải. Mô tả phẫu thuật: phân thuỳ 9 phổi phải có một nang nước lùng bùng, nằm sát màng phổi tạng, kích thước 3x3,5 cm. Hút ra 8 ml dịch trong (như nước mưa). Bóc toàn bộ vỏ kén, đốt điện phần diện tiếp giáp nhu mô và vỏ kén. Chẩn đoán sau mổ: kén nước chưa rõ nguyên nhân.

Xét nghiệm Giải phẫu bệnh:  
 - Đại thể: vỏ kén mỏng 1 mm, mầu trắng đục, mật độ mềm. Trong lòng kén chứa dịch trong.
 
- Vi thể: vách kén là tổ chức liên kết xơ, không thấy biểu mô lót, sát với vách kén (bám vào lòng kén) có hình ảnh ký sinh trùng: còn nhận được hình đầu sán, giác bám và cặp vòng móc, ở một số thiết đồ cắt ngang còn nhận được cấu trúc hình dạng ống tiêu hoá.

  Kết luận: Hình ảnh kén sán, loài ấu trùng sán chó (Echinococcus granulosus).

 

Hội chẩn và xét nghiệm bổ trợ

­       Viện lâm sàng nhiệt đới (14/9/2007): xét nghiệm phân, đờm (-) không thấy trứng sán; Xét nghiệm huyết thanh (ELISA): sán lá phổi (-), sán lợn (-).

­       Bộ môn Ký sinh trùng - ĐHYHN (20/9/2007):

ELISA với ấu trùng sán dây chó Echinococcus granulosus (+) = 1,48; Hiệu giá huyết thanh giun đũa chó  = 1/400.

(Ghi chú: ngưỡng (+) Echinococcus = 1,1; ngưỡng (+) Toxocara = 1/800).

Sau mổ và điều trị: vết mổ khô, ra viện sau 15 ngày, thuốc điều trị ngoại trú theo đơn: Albedazone 400 mg, ngày 2 viên/ 2 lần (sáng, chiều). Uống liên tục 10 ngày, ngừng 5 ngày, sau đó uống tiếp 10 ngày (điều trị 3 đợt).

 

3. Bàn luận

3.1.Tình hình dịch tễ

ấu trùng sán chó gây bệnh ở người là bệnh hiếm gặp. Theo y văn bệnh gặp ở một số nước Nam Mỹ, Bắc Mỹ, Trung Cận Đông, Châu Âu, ở Châu á có một số thông báo ở Nhật Bản (28 ca/ năm). Bệnh do ấu trùng echinococcus granulosus (E.g) gây nên là loài sán dây nhỏ ký sinh ở ruột non chó, có thể gặp ở mèo, cừu, lợn, lạc đà, chó sói. Lây sang người thường tạo nên các tổn thương dạng kén nước chủ yếu ở gan (60%), phổi (25%), thận (3%), não (1%)...Bệnh còn được gọi dưới tên bệnh kén nước (Hydatid cyst disease) hoặc “bệnh sán giãi chó”. Theo PGS.TS Nguyễn Văn Đề (Chủ nhiệm bộ môn Ký sinh trùng - ĐHYHN) tại thời điểm này “ở Việt Nam chưa có thông báo nào về trường hợp nhiễm ấu trùng sán chó ở người loài echinococcus granulosus. Bệnh án 6322 trong nghiên cứu của chúng tôi được xác định là trường hợp nhiễm ấu trùng sán chó (E.g) đầu tiên ở Việt Nam”. Theo ghi nhận tại TPHCM và Cần thơ, Kiên Giang (2004-2005) có nêu 03 trường hợp có nhiễm “ấu trùng sán chó” là BN nam 47 tuổi (TPHCM), BN nữ 45 tuổi (Cần Thơ), BN nam 21 tuổi (Kiên Giang). Tuy nhiên khi xét nghiệm ELISA cho thấy cả 03 trường hợp đó đều là nhiễm loài giun đũa chó (Toxocara canis).

 

Một số dấu hiệu thường gặp trong nhiễm bệnh sán chó ở người:

Về triệu chứng bệnh: có thể gặp đau bụng vùng hạ sườn, ngứa, ho, có thể ho có đờm lẫn máu, sốt. Xét nghiệm bổ trợ để đánh giá: XQ, CT scanner, siêu âm, test chức năng gan, test ELISA tìm kháng thể trong huyết thanh người nhiễm E.g (antibodies với E.g).

Vòng đời (Phụ lục 2): sán trưởng thành ký sinh ở ruột non của chó, trứng sán theo phân chó ra ngoài, trứng có thể sống trong đất, bám vào cỏ, rau, lông chó (trứng sống ở nhiệt độ môi trường 4-5 tuần, ở nhiệt độ: – 20oC trong 2 tuần). Khi người ăn hoặc nuốt phải trứng sán sẽ vào ruột nở thành ấu trùng có móc, sau đó chui qua vách thành ruột vào hệ tuần hoàn (máu hoặc bạch huyết) đi đến cư trú ở gan, phổi, não, thận hoặc tạng khác trong cơ thể người, tạo nên kén nước, số lượng có thể có một hoặc nhiều kén. Theo một số tài liệu cho thấy: kén nước có thể nhỏ từ một đến vài centimét, trường hợp đặc biệt có thể to từ 20-50 cm và chứa 16 lít nước. Theo ước tính kén có kích thước từ 1-7 cm có thể chứa tới hàng ngàn đầu sán. Người được coi là vật chủ trung gian. Vật chủ chính là chó và một số loài thú ăn thịt. 

 


Phụ lục 2

Vòng đời của sán dây chó (life cycle echinococcus granulosus). Internet/ Google/Echinococcus granulosus – 9/2007. 

 

3.2. Bệnh án nghiên cứu (BA 6322) cho thấy: bệnh nhân bị nhiễm ấu trùng sán chó tạo kén nước đơn độc ở phổi, kích thước 3x3,5 cm, chứa 8 ml dịch trong, Xét nghiệm mô bệnh  kén nước ở phổi: có ký sinh trùng sán chó, thử test ELISA huyết thanh người bệnh cho kết quả dương tính với Echinococcus granulosus = 1,48 (chỉ số bình thường là 1,1).  Toxocara canis = 1/400 (chỉ số bình thường là 1/800). Xét nghiệm máu thấy bạch cầu ái toan tăng nhẹ từ 0,42-0,52 [103/ àl]. Theo suy luận của chúng tôi hiệu giá huyết thanh người bệnh với giun đũa chó cho chỉ số 1/400 là rất thấp, vì vậy có thể loại trừ “dương tính giả”.  Vì hình ảnh ấu trùng có trên tiêu bản mô bệnh học kén nước ở phổi chỉ thể hiện cho loài ấu trùng sán chó (E.g) với các đặc trưng điển hình về mặt hình thái như: giác bám, các cặp đôi vòng móc của sán chó. Theo y văn đặc điểm nhiễm giun đũa chó là liên quan đến dạng tổn thương tạo ổ áp xe, thường không tạo kén nước như ở bệnh sán chó. So sánh với nghiên cứu của chúng tôi thì BA 6322 này có hình ảnh tạo kén nước điển hình ở phổi do ấu trùng sán chó gây nên.

 

3.3. Điều trị: theo ý kiến của nhiều tác giả: để tránh sự lây lan ấu trùng sán chó khi bóc tách vỏ kén cần thận trọng, tránh gây vỡ kén hoặc thoát dịch ra tổ chức xung quanh, sẽ gây lên sự lan tràn bệnh. Vì vậy, sau phẫu thuật cần được điều trị dự phòng (Melbendazol/Albedazol). ở bệnh án nghiên cứu của chúng tôi bệnh nhân đã được điều trị thuốc Albedazol 400 mg x 10 ngày x 3 đợt (mỗi đợt cách nhau 5 ngày).

 

3.4. Đề phòng: giáo dục vấn đề sức khoẻ. Tránh ăn rau sống rửa không sạch. Không nuôi hoặc hạn chế nuôi chó, mèo, cần tẩy giun sán cho chó, mèo 2 lần/ năm để tránh mầm bệnh.

 

IV. Tài liệu tham khảo

1.      Bài giảng Ký sinh trùng (1998)

Bộ môn Ký sinh trùng - ĐHYHN. Nhà xuất bản y học, năm 1998.

2.      Bệnh học Lao và Bệnh phổi (1996)

Nhà xuất bản y học – Hà Nội 1996.

3.  Hội nghị chuyên đề Y–Sinh học phân tử ứng dụng trong ngành Ký sinh trùng-

     ĐHYHN, 10/2007                  

4.  Trần Thị Kim Dung (2007)

Thông báo trường hợp Toxocara canis. Hội nghị chuyên đề Y–Sinh học phân tử ứng       dụng trong ngành Ký sinh trùng - ĐHYHN, 10/2007 

5.  Nguyễn Văn Đề (2007)

ứng dụng công nghệ gen trong xác định thành phần loài ký sinh trùng ở Việt nam. Hội nghị chuyên đề Y–Sinh học phân tử ứng dụng trong ngành Ký sinh trùng- ĐHYHN, 10/2007                  

6.   Đỗ Đức Hiển – Kimô.H – Nguyễn Văn Đề (1996)

Sán lá phổi ở Sìn Hồ – Lai Châu

Hội nghị khoa học về Lao và Bệnh phổi – Hội Lao và Bệnh phổi Việt Nam – 1996, trang 129.

7.   Hoàng Long Phát (1990)

Nhân 8 trường hợp hội chứng Loeffler.

8.   Hoàng Long Phát (1990)

Nhân 4 trường hợp sán lá phổi

Hội nghị KH bệnh phổi – HN 4/1990 – Viện L.ao và Bệnh phổi, trang 69.

9.   Bùi Xuân Tám (2000)

Bệnh hô hấp – Nhà xuất bản y học – 2000.

10. Anderson’s Pathology (1996)

Tenth editions – Mosby,Year Book,Inc. New York.

  

Bài Bs.Ngô Thế Quân1, Bs. Tạ Chi Phương2, Ts.Nguyễn Chi Lăng3, Ts.Nguyễn Văn Hưng4, Ths.Phạm Thị Thái Hà5, Cn.Phạm Thị Thu Huyền4, Cn.Nguyễn Công Định1 

(1. Giải phẫu bệnh, 2.  U bướu, 3.  Soi phế quản, 4.  Vi sinh, 5. Lao ngoài phổi BV Lao và Bệnh phổi T.Ư)

 

 
  Gửi thư liên hệ  
  Số 463, đường Hoàng Hoa Thám, quận Ba Đình, Hà Nội - Việt Nam
Điện thoại : 84.4.8326249 * Fax : 84.4.8325.865 * Email :vienlao@bvlaobp.org
Website : http://bvptw.org
Bản quyền thuộc BỆNH VIỆN PHỔI TRUNG ƯƠNG